Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, đã phải thốt lên tại buổi tọa đàm về TPP tuần trước tại TBKTSG: Câu hỏi lớn nhất với bản thân tôi mà tôi chưa đáp được là với TPP, chúng ta sẽ có kết quả như với BTA ký với Hoa Kỳ hay như thời điểm sau khi vào WTO. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình kinh tế năm năm sau WTO thua xa năm năm trước đó về nhiều mặt, kể cả tốc độ tăng trưởng GDP, chất lượng tăng trưởng, xuất du nhập.
Và cũng rất có thể doanh nghiệp trong nước một lần nữa nhảy vào các dịp ngắn hạn, mang tính đầu cơ chứ không nghĩ đến chiến lược kinh doanh lâu dài.
Một điều đáng buồn là cũng như lần gia nhập WTO, một trong những kỳ vọng của mọi người là áp lực từ thương thuyết và thực hành TPP sẽ giúp minh bạch hóa quá trình ra chính sách, quá trình đấu thầu mua sắm chính phủ, tạo lập môi trường cạnh tranh đồng đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.
10-11 và bài đàm phán TPP vòng thứ 19: còn nhiều bất đồng, tr. Tính đến năm 2012, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt mức 20,3 tỉ đô la, trong đó có 7,7 tỉ đô la hàng dệt may (số liệu của AmCham Vietnam). Hiện chúng ta đang ở đáy dốc rồi nên mong muốn của tôi là TPP sẽ là cú hích mới như BTA chứ không phải theo kiểu của WTO.
Rất có thể xung lực từ tiềm năng trở thành thành viên của TPP sẽ lôi kéo đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, mạnh mẽ như thời mới vào WTO. Với sự hậu thuẫn của chính phủ nước họ trên bàn thương thảo, có thể một lần nữa chúng ta lại thua ngay trên sân nhà. Lấy thí dụ ngành may mặc đang lo lắng vì nguyên tắc phải dùng vật liệu nội khối. Xuất khẩu tăng nhưng phần tăng mạnh nhất rơi vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (năm 2012, tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực FDI là 33,5% trong khi xuất khẩu trong nước chỉ tăng vỏn vẹn 1,3%, kim ngạch của nhóm FDI lên đến 63,9 tỉ đô la so với nhóm trong nước - 42,3 tỉ đô la).
Năm 2002, năm trước tiên ký BTA, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng lên mức 2,4 tỉ đô la, tăng bốn lần so với năm 1999 và xuất khẩu hàng may mặc năm đó là 952 triệu đô la, tăng gần 20 lần so với mức 49 triệu đô la của năm trước đó.
Mong muốn có lẽ phải đi kèm với hành động thì kịch bản tốt nhất mới diễn ra. Với BTA thì chúng ta từ đáy dốc đi lên còn vào WTO rồi thì chúng ta từ đỉnh dốc đi xuống. Tại sao lại cần dựa vào sức ép TPP trong khi đây là những điều hoàn toàn nằm trong khả năng và tầm tay của chúng ta. Sự khác nhau giữa hai lần hội nhập này là gì? Là sự chuẩn bị và cầm cố cách tân nền kinh tế một cách cơ bản ở lần đầu, đặc biệt là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp và bước phát triển nhảy vọt của khu vực kinh tế tư nhân.
Nếu nhà nước chuyển hướng cho các tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư vào các ngành mới như sản xuất sợi, dệt, nhuộm và các loại nguyên phụ liệu khác thì cơ hội sẽ được tận dụng. (Xem thêm bài TPP: sẽ tiến lên hay sẽ thua trên sân nhà, tr. Nếu quốc gia lắng nghe ngôn ngữ của doanh nghiệp đang cần sự hỗ trợ về mặt chính sách để tận dụng thời cơ thì sự thể có thể sẽ khác.
Trái lại, cột mốc nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chỉ đánh dấu sự bùng nổ thị trường chứng khoán, địa ốc, nhà băng thành những bong bóng mà di chứng vẫn còn lại đến nay. 66-67). Vậy, có thể kỳ vọng gì ở lần hội nhập sắp tới khi Việt Nam dự hiệp nghị Đối tác xuyên thăng bình Dương (TPP) với 11 nhà nước khác? Đó có thể là sự bình phục của nền kinh tế nếu quốc gia có những bước đi chủ động chuẩn bị đón nhận dịp.
Ở lần đầu doanh nghiệp đầu tư làm hàng xuất khẩu vào Mỹ để tận dụng dịp BTA; ở lần sau thời cơ này rơi vào tay doanh nghiệp FDI vì doanh nghiệp trong nước bận mở rộng kinh doanh, nhảy vào ngành nghề trái cựa như địa ốc.
Như vậy, nhịp hay thách thức chính là do nội lực của doanh nghiệp chứ không phải ai khác. Vì thế chỉ nên xem TPP như là bộ lọc giúp phát hiện các tệ nạn này nhanh hơn, khách quan hơn và giải quyết triệt để hơn.
Nếu nguồn lực xã hội không bị hoang vào chuyện giải cứu bất động sản hay ngân hàng hay tập đoàn kinh tế gần phá sản thì cơ may vẫn còn đó.
Và là sai trái trong định hướng chính sách ở lần sau khi nguồn lực được rót vào các doanh nghiệp nhà nước, để nơi này nhảy vào kinh doanh đa ngành nghề, bỏ quên năng lực chính. Nhưng đó cũng có thể là nhịp mất đi vào tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đang rất nhanh nhạy tìm cách đầu tư đón đầu dịp. Nguyễn Vạn Phú Ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA) với Mỹ là bước ngoặt giúp Việt Nam ra khỏi nhiều năm dài trì trệ sau khủng hoảng tài chính khu vực, khu vực kinh tế tư nhân cất cánh, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng vọt.
Cái trở ngại chính là tệ lậu tham nhũng, là lợi ích nhóm trái phép và là lợi ích cá nhân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét